Mộc bản Triều Nguyễn Di sản văn hóa xác định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa Trường Sa

Đăng bởi: Ban Biên Tập ngày: 03/07/2012 5:07 am 0 Phản hồi

(Chính trị) - 1. Khái Niệm Khoa học lịch sử của Mộc Bản
Mộc bản Triều Nguyễn1 là di sản vă hóa, lịch sử và khoa học vô giá của Việt Nam. Là nguồn tư liệu đồ sồ về nhiều công trình lịch sử, địa lý, văn học, pháp luật Việt Nam. Mộc bản, là những tấm gỗ chứa các văn bản chữ Hán và chữ Nôm được khắc ngược trên mặt gỗ để in ra thành các văn bản, các sách Quốc sử thời Nhà Nguyễn2. Mộc bản Triều Nguyễn là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu khoa học, xã hội, lịch sử và địa lý Việt Nam. Mộc bản được khắc “chữ khắc ngược” là bởi vì được dùng để nhân bản ra thành các phiên bản tài liệu của cơ quan Quốc Sử Quán3 nhằm phổ biến rộng rãi ra công chúng về các điều luật4, sắc lệnh5, chỉ dụ6, chuẫn mực xã hội, các dữ kiện, sự kiện lịch sử… Các tư liệu lịch sử của Quốc sử quán được xem là một nguồn tư liệu đồ sộ, bao gồm nhiều dạng, như: Châu bản7, Mộc bản, sách chính văn, chính sử, địa chí, thực lục, ví dụ như Hoàng Việt Nhất Thống địa chí của Lê Quang Định soạn năm 1806, Đại Nam nhất thống chí do nhóm các Quan – văn sĩ Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn, Đại Nam Thực Lục do các Sử Quan thời Minh Mạng và Thiệu Trị biên soạn, Quốc Triều sử toát yếu, v.v…
Trong số tư liệu đó, kho tàng Mộc bản triều Nguyễn8 sau khi được ủy ban Tư vấn quốc tế thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO thẩm định khoa học công nhận là Di sản tư liệu thế giới, đã được xếp vào danh mục Chương trình “Ký ức thế giới” (Memory of the world), được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 30-7-2009. Là “Di sản tư liệu Văn hóa – Lịch sử Việt Nam”, “Di sản tư liệu thế giới”; Mộc bản, tổng cộng gồm 34.618 tấm gỗ. Di sản tư liệu Mộc bản, hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.

Nơi trưng bày mộc bản triều Nguyễn

Nơi trưng bày mộc bản triều Nguyễn

2. Mộc Bản Triều Nguyễn Di sản Tư liệu Thế giới khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở biển đảo Hoàng SaTrường Sa là của đất nước Việt Nam

Sự ra đời của tài liệu mộc bản do cơ quan Quốc Sử Quán đảm nhận chính và làm chủ quản. Quốc Sử Quán được thành lập năm 1821. Để chế tác tài liệu mộc bản đạt tiêu chuẩn của Nhà Vua, Quốc Sử Quán đã phải tuyển nhiều thợ chạm khắc giỏi của cả nước đến làm việc. Mỗi chữ Hán – Nôm trên mộc bản được khắc rất tinh xảo, sắc nét. Di sản Mộc bản không những là một trang tài liệu khoa học quý giá mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, là di sản của dân tộc.
Trước năm 1960, Mộc Bản được lưu trữ tại cố đô Huế, và cũng trong năm 1960, kho mộc bản quý hiếm này được chuyển từ Huế vào thủ phủ Hoàng triều cương thổ Đà Lạt, cất giữ tại Nha Ngân khố.
Nội dung của Di sản Mộc bản triều Nguyễn rất phong phú và đa dạng, ghi chép về lịch sử và ngôn ngữ văn tự, chính trị xã hội cho đến các vấn đê về pháp chế, về văn hóa – giáo dục, về tư tưởng triết học – tôn giáo cho đến các thể loại văn thơ truyện ký và về lịch sử quan hệ quốc tế, phản ánh mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn. Nội dung, bao hàm nội hàm các giá trị có ảnh hưởng lớn mang tính lịch sử tới đời sống xã hội. Đặc biệt, về địa lý có hai bộ sách gồm 20 quyển, ghi chép về địa lý ở Việt Nam, trong đó có nội dung khoa học khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần biển đảo Hoàng Sa – Trường sa9, và ghi chép về hoàng thành Huế. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 104 năm Minh Mạng thứ 14 (1833) ghi lại rằng: “Vua bảo bộ công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường bị nạn (mắc cạn). Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.
So sánh về vấn đề chủ quyền biển đảo và thực thi chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có Mộc bản triều Nguyễn, sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, ghi chép về tỉnh Quảng Ngãi có đoạn viết: “Đảo Hoàng Sa ở phía đông cù lao Ré (đảo Lý Sơn) huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết hàng mấy ngàn dặm, bằng phẳng, rộng rãi tục gọi là “Vạn lý trường sa”, nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản vật nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi, vích…Hồi đầu bản triều có đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào hàng năm, cứ tháng 3 là ra biển tìm kiếm hải vật, đến tháng 8 mang về cửa biển Tư Hiền để nộp, lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật của các đảo. Đầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa. Đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển. Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả, hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2.000 cân”. Ðảo Hoàng Sa được ghi trong Ðại Nam Nhất Thống Chí, quyển 8, tỉnh Quảng Ngãi là những nội dung khẳng định nhữnh tư liệu đã đề cập trong Phủ Biên Tạp Lục, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, và Ðại Nam Thực Lục là loại tài liệu khoa học bậc I, xác thực, chính xác về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam, là luận cứ khoa học về chủ quyền và thực thi chủ quyền phù hợp với luật biển và thềm lục địa của luật quốc tế về biển đảo của một quốc gia.
Vấn đề này, trong Ðại Nam Thực Lục Chính Biên, là luận cứ và là luận chứng khoa học, đã xác định: “tháng giêng mùa xuân Vua ra chiếu mệnh thủy quân cùng đội Hoàng Sa dùng thuyền đến Hoàng Sa thăm đo thủy trình…”10 Điều này, ghi chép về những báo cáo của khách buôn thông thương với đất Quảng Nam, Quảng Ngãi có một số sách của người Trung Quốc như “An Nam Cung Dịch Ký Sự” của Chu Thuần Thuỷ, “An Nam Kỷ Du” của Phan Đình Khuê, “An Nam Tạp Ký” của Lý Tiên Căn và “Hải Ngoại Kỷ Sự” của Thích Đại Sán. Các sách hải ngoại này do chính người Trung Hoa viết và ghi chép về Trường Sa và Hoàng Sa. Đáng chú ý nhất trong số sách đó là cuốn “Hải Ngoại Kỷ Sự” do nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán viết năm 1696 sau chuyến thăm Phú Xuân năm 1695. Đây là tác phẩm của người Trung Quốc viết về Quốc Vương tức là chúa Nguyễn An Nam và hoạt động của triều đình An Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (tức là Vạn Lý Trường Sa theo cách gọi của người Việt Nam và người nước ngoài thời bấy giờ). Đây là tư liệu cổ chứng tỏ hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được người nước ngoài biết đến, trong đó có người Trung Quốc.
Hoạt động trên biển đông thông thương qua lại, trong Quyển 3 của cuốn “Hải Ngoại Kỷ Sự”, Sư Thích Đại Sán có đoạn chép về đường qua Biển Đông như sau: “Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước và sau mùa lập Thu. Chừng ấy gió Tây Nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng 4, 5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần nổi lên, nước chảy về hướng Đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chảy mạnh về phía Đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn. Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng dọc biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam; đống cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền đụng phải hẳn tan tành; bãi cát rộng hàng trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể gọi là Vạn lý Trường Sa, mù tít chẳng có cây nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà lạc vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Quốc Vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc từng bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào. Mùa thu nước ròng cạn rút về phía Đông, bị một ngọn sóng đưa đi, thuyền có thể trôi xa hàng trăm dặm; sức gió chẳng mạnh sợ gặp hiểm hoạ Trường Sa”11.
Trong tổng số bộ di sản mộc bản, chúng ta nhận thấy trong Đại Nam thực lục, quyển 122 có chỉ dụ của Vua Minh Mệnh như sau: “năm Giáp Ngọ [1834] Minh Mệnh thứ 15, tháng 3 mùa xuân sai Giám thành Ðội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng 20 thủy quân đáp thuyền đến xứ Hoàng Sa, Quảng Nghĩa vẽ bản đồ rồi về. Nhà vua hỏi về sản vật tại nơi này, Sĩ tâu xứ này bãi cát rộng lớn không có bến bờ, duy có người Thanh thường đi lại đánh cá bắt chim mà thôi; nhân đem những đồ bắt được như chim chóc, cá, ba ba, ốc, sò dâng lên; phần lớn là những vật lạ người ta ít khi được thấy. Vua triệu các Thị thần cho xem, cùng thưởng cho những người đi tiền bạc nén có sai biệt”12.
Như vậy, từ thời các chúa đã cho lập hải đội Hoàng Sa có chỉ dụ hành chính của triều đình với nhiệm vụ bảo vệ và khai thác tài nguyên và xác định vị trí địa lý trên các đảo là vùng biển đảo của Việt Nam. Sang thời các vua triều Nguyễn, Hoàng Sa và Trường Sa được triều đình quan tâm hơn. Ngoài hải đội Hoàng Sa là hải đội chính quy, nhà Nguyễn đã cho xây dựng ở hai quần đảo trên một số công trình như: chùa chiền, miếu thờ, bia xác lập chủ quyền “vào năm [Minh Mệnh] thứ 16 [1835] tâu chuẩn xây một gian miếu tại Hoàng Sa, Quảng Ngãi (theo thể chế mái gạch). Vị trí tại phía tây nam gò Bạch Sa, phía trái xây bia gạch cao 1 xích 5 thốn=0,705 mét; bề mặt 1 xích 2 thốn= 0.564 mét, trước xây bình phong; phía trái, phải, đằng sau đều trồng các loại cây”13 nhằm xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Từ những tấm mộc bản này, vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thêm một lần nữa được khẳng định, mang tính khoa học và có sự xác định của Quốc tế về Di sản tư liệu quốc tế tại Việt Nam.

3. Nhận xét
Di sản thế giới tại Việt Nam là di sản thế giới đã được UNESCO công nhận. Di sản được hiểu là các di sản thế giới tại đất nước mà di sản đó được hình thành và được công nhận. Hệ thống di sản bao gồm các Di sản thiên nhiên thế giới, Di sản văn hóa thế giới, và các Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và Di sản tư liệu thế giới được liệt kê vào danh sách này gọi là Di sản thế giới. Như vậy, Mộc bản Triều Nhuyễn là một trong số ba mươi lăm (35) Di sản thế giới được liệt kê vào danh sách là Di sản tư liệu thế giới. Việc khẳng định chủ quyền cương vực và các quần đảo, vùng biển thông qua Di sản Mộc bản Triều Nguyễn nhà Nguyễn đã luôn ý thức và chú ý một cách đặc biệt mạnh mẽ về chủ quyền Biển Đông là chiến lược phát triển, ổn định cho đất nước muôn đời sau. Chuẩn bị rõ ràng, cụ thể để cương vực được xác định và thực thi quyền chủ quyền hợp pháp cho Việt Nam, tạo thế đứng vững chãi cho dân tộc.
Những việc về Hoàng Sa và Trường Sa được triều đình nhà Nguyễn đem ra luận bàn trong những lần thiết triều, nghị sự. Đó không phải là việc riêng của một bộ nào mà là việc chung của toàn triều đình, toàn dân; đến thời đại chúng ta – thời đại Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải xem đó là việc của toàn nội các, toàn dân như nhà Nguyễn đã xem trọng. Nhìn nhận vấn đề này, như trước đó, từ các thời các Chúa thì câu chuyện biển Đông đã được nhắc đến và đã được nghị sự quốc triều, Mộc bản sách Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 10 thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, có chép: “Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là “vạn lý Trường Sa”.
Ví dụ chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1711, Chúa ra chiếu dụ, sai các quan văn võ, thiên văn địa lý hội họp quốc sự và sai đo vẽ quần đảo Vạn lý Trường Sa, chính thức xác lập vùng biển đảo Trường Sa – Hoàng Sa vào địa lý Việt Nam.
Nhận xét cho giá trị Mộc bản triều Nguyễn về việc khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa là của đất nước Việt Nam có nghĩa là khi thời đại chúng ta tìm hiểu về giá trị văn hóa, lịch sử của Mộc bản là tìm hiểu về một loại thư tịch khoa học, có niên đại rõ ràng, có giá trị như những luận chứng và chứng cứ khoa học, chứa đựng hệ thống thông tin nhiều mặt về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, và thể hiện tính chất giáo dục, đặc tính chủ quyền của một thời đại đương thời.
Bởi lẽ, Nhà nước và Đảng ta đã tiếp tục khẳng định và chủ trương kế thừa tư tưởng chủ đạo của văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước14 có liên hệ mật thiết với những vấn đề chính trị, xã hội bao gồm hệ thống những quan điểm lý luận về dựng nước, đánh giặc giữ nước, dân giàu nước mạnh. Tính đặc thù của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tinh thần đoàn kết, tinh thần bảo vệ bờ cõi, lãnh thổ, bản sắc dân tộc. Ở những đặc điểm này, giai đoạn chúng ta cần khẳng định và cần phát huy chủ đạo nhất.
Như vậy, sự có mặt của Di sản Mộc bản Triều Ngyễn là điều kiện, là hiện tượng tất yếu trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, để thể hiện tính phổ biến hóa, tính truyền thông và giáo dục vào đời sống nhân dân, thể hiện những tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Thứ nhất, Mộc bản là những bản khắc ghi lại những dự kiện, sự kiện, sắc lệnh hoặc những vấn đề trọng yếu của quốc gia, xã hội đã diễn ra có tính chất giáo dục ghi ơn, nhớ ơn và tuyên dương công danh sự nghiệp và công hạnh của các bậc vua chúa, cá nhân, tổ chức đã có công trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Thứ hai, Di sản Mộc bản lưu truyền cho đời sau những tính chất, việc làm hữu ích, có giá trị trên nhiều lĩnh vực. Hơn nữa, Mộc bản còn đặc biệt chú trọng đến giá trị mỹ thuật của dân tộc. Đó chính là giá trị văn hóa truyền thống chứa đựng trong Văn khắc – văn bản của Mộc bản, những giá trị không chỉ đối với quá khứ mà cả trong hiện tại lẫn tương lai.

Thông tin tác giả:
Bài viết là tác phẩm được nghiên cứu khoa học thuộc quyền tác giả.
Họ tên: Trần Đức Liêm
Bút danh:  Trần Đức Liêm
SĐT. 0986 423 945
Email. thongsuchinh@gmail.com

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyenthanhnghi.net